Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan điểm kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan điểm kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Giá dầu bước vào giai đoạn phục hồi?

Đồ thị giá xuất hiện tín hiệu phân kỳ tăng giá (Bullish Divergence) với các chỉ báo kỹ thuật RSI(14), %B(20,2) cho nên đồ thị giá có thể bước vào giai đoạn hồi phục. Nếu đồ thị giá “breakout” mức 88.0 thì xu hướng tăng có thể được mở rộng về mức 96.7


Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Thấy gì từ số liệu vĩ mô tháng 7?



MARKETS.VN: 


Khi các số liệu thống kê được Tổng cục thống kê thông báo, phần lớn giới đầu tư chú ý tới diễn biến chỉ số CPI bởi chỉ số này có liên hệ mật thiết với điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện tại. Chỉ số CPI tháng 7 tăng 1.17% so với tháng trước, tăng 22.16% so với cùng kỳ năm trước và 14.61% so với đầu năm.

Như vậy, sau khi có xu hướng giảm nhẹ trong hai tháng trước đó, tháng Sáu là 1.09%, việc CPI tăng nhẹ trở lại trong tháng 7 làm tăng lo ngại về việc liệu lạm phát đã thực sự bước vào chu kỳ giảm. Trước đó, Ngân hàng nhà nước trong một động thái bất ngờ đã giảm lãi suất OMO từ 15% xuống 14%, làm giới phân tích (chẳng hạn Fitch Rating gần đây đã cho rằng đây là động thái nới lỏng tiền tệ) e ngại rằng Ngân hàng nhà nước đã vội vàng trong điều hành tiền tệ như thường lệ trước đây: thắt chặt đầu năm và nới lỏng cuối năm. Tuy nhiên, trong các bài phân tích về tính chu kỳ của chính sách tiền tệ, chúng tôi đã cho rằng theo chu kỳ thì CPI tháng 7 sẽ tăng và dự báo từ tháng 8 thì CPI (m/m) sẽ tiếp tục chu kỳ giảm. Việc giảm lãi suất OMO theo chúng tôi đơn giản là phản ánh sự cải thiện về thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Do vậy, việc CPI tăng trở lại trong tháng 7 không phải là điều ngạc nhiên trong khi việc giảm lãi suất OMO vào ngày 4/7 không đồng nghĩa với sai lầm bài học cũ được lặp lại. Mọi việc vẫn đang diễn ra theo đúng tinh thần Nghị quyết 11.

Điều gần đây một số nhà kinh tế rộ lên sự tranh luận vê nguy cơ về lạm phát đình đốn – điều mà chúng tôi cảnh báo trong các bài phân tích cuối năm 2010 về sự lựa chọn chính sách. Có lẽ 6 tháng là khoảng thời gian đủ để người ta nhận thấy rằng các doanh nghiệp khó có thể sống với cách cách tiếp cận tiền tệ truyền thống: lãi suất cao chống lạm phát cao. Có thể đâu đó cho rằng lãi suất cao là cơ hội để sàng lọc doanh nghiệp, nhưng thật khó để tin rằng một nền kinh tế chỉ tăng trưởng 5% lại có những doanh nghiệp tốt sẵn sàng đi vay với lãi suất lên tới 20%.

Sản xuất đình đốn là điều có thật. Trong bài nghiên cứu tháng trước, chúng tôi đã nhìn con số sản xuất công nghiệp và tổng mức bán lẻ hàng hóa như là những biểu hiệu sụt giảm của cung cầu. Tháng này, những con số đó tiếp tục được khẳng định. Cụ thể, giá trị sản xuất công nghiệp lũy kế từ đầu năm đã sụt giảm hai tháng liên tiếp từ khoảng trên 14% xuống 9.7% so với cùng thời kỳ năm trước trong tháng 6 và còn 8.8% trong tháng 7. Nếu bỏ qua yếu tố giá thì con số này đã liên tục sụt giảm từ đầu năm và còn 4.6% vào tháng 7. Trong khi đó thì tổng mức bán lẻ hàng hóa lũy kế từ đầu năm đến tháng 7 tăng 22.30% so với cùng thời kỳ năm trước, trong xu thế giảm nhe từ đầu năm nhưng thấp hơn hẳn so với năm 2010. Đi cùng với sự sụt giảm đáng ý của sản xuất công nghiệp là sự gia tăng của hàng tồn kho, tháng 7 là 16%, tháng 6 là 15.9% trong khi tháng 5 là 14.6% và tháng Tư là 5%. Có thể nói, sụt giảm sản xuất công nghiệp, tăng tỷ trọng hàng tồn kho và tổng mức bán lẻ hàng hóa ở mức thấp là những biểu hiện của nền kinh tế đang trong giai đoạn đình trệ. Việc đình trệ này sẽ chỉ có thể nói là hợp lý nếu trong thời gian tới sức ép lạm phát giảm trong khi sự sụt giảm sản xuất công nghiệp và hàng tồn kho tăng chậm lại.

Với những nhận định này, chúng tôi nhìn nhận rằng thị trường chứng khoán chưa nhìn thấy cơ hội chừng nào tiền không chạy trong nền kinh tế. Với sự hạn chế tín dụng phi sản xuất (16% vào cuối năm) cộng với mặt bằng lãi suất phải chờ diễn biến CPI, cả yếu tố đòn bảy niềm tin (tín dụng phi sản xuất) cũng như kỳ vọng thực (vào hoạt động của doanh nghiệp) đều không ủng hộ thị trường. Do vậy, những đợt hồi phục của thị trường nếu có thường sẽ ngắn và nhanh.



Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Ngân hàng nhà nước mua 4 tỷ đô la Mỹ – tiền Đồng đi đâu?

Markets.vn


Ngân hàng nhà nước đã mua vào khoảng 4 tỷ đô la Mỹ kể từ đầu năm. Điều này giúp thị trường ngoại hối khá ổn định trong thời gian qua với việc tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen luôn báo sát nhau quanh mức 20,600 đồng, luôn thấp hơn so với tỷ giá trần. Điều này cũng giúp cho dự trữ ngoại hối Việt nam tăng tốt, được ước lượng ở mức 13.5-15 tỷ đô la Mỹ.

Mọi người thường đặt ra câu hỏi vậy tiền Đồng dùng để mua đô la Mỹ đã chạy đi đâu. Câu hỏi này là hợp lý bởi nhớ lại năm 2007, Ngân hàng nhà nước cũng được cho là đã mua vào 7 tỷ đô la Mỹ và tạo ra sự dư thừa thanh khoản trong nền kinh tế. Câu trả lời đơn giản là tiền nằm trong hệ thống ngân hàng và ngân hàng nhà nước đã sử dụng công cụ thị trường mở để không tạo ra sự dư thừa trong bối cảnh thắt chặt tiền tệ. Ngân hàng nhà nước ước tính đã hút ròng một lượng tiền khoảng hơn 100,000 tỷ đồng trên thị trường mở trong giai đoạn từ cuối tháng 4 cho đến hiện tại.

Như vậy có thể hiểu rằng tiền Đồng có được từ bán đô la Mỹ đã được điều tiết chủ yếu thông qua thị trường mở. Việc các mức lãi suất liên ngân hàng tương đối ổn định quanh mức 12-13% trong thời gian qua cũng thể hiện rằng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng không chịu ảnh hưởng từ động thái này – nghĩa là ngân hàng nhà nước đã hút ròng vừa đủ. Trước đó, các đợt phát hành trái phiếu chính phủ đã thành công trở lại sau một thời gian dài mặc dù tỷ suất trái phiếu thấp hơn lãi suất thị chiết khấu cũng cho thấy hệ thống ngân hàng dồi dào thanh khoản.

Như vậy, có thể giả thuyết rằng tiền Đồng chưa chạy ra nền kinh tế bởi mặt bằng lạm phát và lãi suất cao làm cho mọi hành vi kinh tế đều trở nên rủi ro và do đó, tiền Đồng ngủ yên trong hệ thống ngân hàng là một giải pháp tạm thời.

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Kinh tế Việt nam – nỗi lo giảm phát!

Markets.vn

Cuối tháng 9/2010, trong một hội nghị báo chí về lĩnh vực thị trường tài chính và chứng khoán, tôi đã đưa ra quan điểm rằng phần lớn các tổ chức nước ngoài lớn chưa quan tâm tới Việt nam bởi họ e ngại khả năng lạm phát đình đốn có thể xảy ra. 9 tháng đã trôi qua kể từ thời điểm đó, nền kinh tế và thị trường chứng khoán vẫn tiếp tục trong vòng luẩn quẩn. Mặt bằng lãi suất và lạm phát tiếp tục ở mức cao trong khi các doanh nghiệp đã và đang gặp nhiều khó khăn dẫn tới đình đốn sản xuất. Bài phân tích nhanh dưới đây của tôi cho rằng tâm điểm sắp tới vẫn là chính sách tiền tệ và nỗi lo sắp tới là giảm phát.

Lạm phát và lãi suất
Tính đến tháng 6/2011, chỉ số CPI ở mức 20.82% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với thời điểm cuối năm 2010 khi chỉ số CPI nằm trong khoảng 9-11%. Nếu tính từ đầu năm thì chỉ số này đã tăng 13.29%. Các con số này phần lớn cao hơn con số mục tiêu được chính phủ liên tục điều chỉnh trong thời gian qua, gần nhất là 17% cho năm 2011. Chỉ số CPI hàng tháng tuy vậy đang giảm dần, tháng 6/2011 chỉ còn 1.09% sau khi tăng mạnh vào tháng 4/2011 ở mức 3.32%.
Về phía lãi suất, mặc dù trần huy động là 14%, nhưng hầu hết quan điểm chung cho rằng mức lãi suất này thực tế không tồn tại. Báo cáo của Ngân hàng nhà nước trong tháng 5/2011 cho rằng mặt bằng lãi suất huy động trung bình khoảng 15.5% và cho vay khoảng 18.7%, có giảm so với trước đó nhưng tăng trung bình 3% so với thời điểm cuối năm 2010. Mặc dù vậy những con số này vẫn được cho là được báo cáo thấp hơn thực tế bởi Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho rằng mặt bằng lãi suất cho vay từ 18-22%, cá biệt lên tới 25-27%[i].
Đồ thị 1: Xu thế chỉ số giá cả (đường đứt quãng là dự báo)
Tài khóa và đầu tư công
Việc mặt bằng lãi suất ở mức cao là điều thường thấy, nhưng không có nghĩa là thường đúng, trong phản ứng chính sách tiền tệ tại Việt nam. Bỏ qua những tranh luận về cách tiếp cận tiền tệ này, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng, việc chống lạm phát có thể sẽ chỉ thực sự thành công nếu đầu tư công được kiểm soát một cách hiệu quả. Báo chí dẫn nguồn từ Ủy ban Kinh tế quốc hội cho biết tổng giá trị cắt giảm đầu tư công tính đến tháng 5/2011 vào khoảng 80,550 tỷ đồng, khoảng 9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội[ii]. Thoạt nhìn, đây là một con số tích cực thể hiện sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, khi nhìn vào con số đầu tư từ ngân sách nhà nước của tổng cục thống kê, tính đến tháng 5/2011 thì tổng đầu tư từ ngân sách là 73,359 tỷ đồng trong khi cùng kỳ năm 2010, con số này là 45,623 tỷ đồng, thì cách nhìn nhận có thể sẽ thay đổi. Mặc dù đầu tư từ ngân sách không đồng nghĩa với đầu tư công, nhưng con số này cũng cho tôi một băn khoăn là liệu có phải chúng ta đã có kế hoạch đầu tư quá dàn trải để rồi ngay cả khi đang thực hiện cắt giảm theo Nghị quyết 11 của chính phủ thì đầu tư từ ngân sách vẫn tiếp tục ở mức cao nếu xét theo giá trị tuyệt đối? Nếu điều này là đúng, thì dường như kết luận sẽ là chính sách tài khóa đã đi theo hướng tốt, nhưng không phải tốt nhất, bởi thực tế là những khoản đầu tư được cắt giảm là những khoản đầu tư được dự kiến quá mức, trong khi chính sách tài khóa không hẳn là thắt chặt. Do vậy, tâm điểm tác động tới nền kinh tế trong thời gian tới vẫn sẽ tiếp tục là chính sách tiền tệ.
Tiền tệ và tín dụng
Mặt bằng lãi suất cao làm giảm tăng trưởng tín dụng bởi một mặt không khuyến khích doanh nghiệp lành mạnh vay vốn trong khi các ngân hàng e ngại việc cho vay vốn đối với những doanh nghiệp kinh doanh rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh tín dụng phi sản xuất được khống chế ở mức 22% vào cuối tháng 6/2011 và 16% vào cuối năm 2011. Theo báo cáo của ngân hàng nhà nước, trong 6 tháng đầu năm, tổng dư nợ tín dụng chỉ tăng 7.13% so với cuối năm 2010 trong khi mục tiêu của Ngân hàng nhà nước trong năm 2011 là 20%[iii].
Trước đây, tình trạng này thường gắn liền với thanh khoản kém trong hệ thống ngân hàng, nhưng hiện tại thì điều này không còn đúng khi các thông tin mới nhất cho thấy hệ thống ngân hàng đang dồi dào thanh khoản[iv]. Cụ thể, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã giảm nhiệt trong vòng một tháng trở lại đây, với lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn ổn định ở mức 12-13%. Sự tham gia tích cực của các ngân hàng trong việc mua trái phiếu chính phủ có tỷ suất chỉ 13% so với lãi suất tái chiết khấu là 15% cũng là dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng đang thừa thanh khoản.
Tăng trướng tín dụng thấp so với mục tiêu trong khi nhu cầu doanh nghiệp cao, đồng thời thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thuận lợi, cho tôi kết luận rằng mặt bằng lãi suất cao chính là rào cản cho các doanh nghiệp sản xuất tiếp cận vốn tín dụng. Bản thân các ngân hàng do đã phải huy động lãi suất cao nên họ cũng chưa dễ dàng chấp nhận việc giảm lãi suất cho doanh nghiệp. Nếu mặt bằng lãi suất cao mà tăng trưởng tín dụng tăng thì đó quả thực là một nguy cơ đối với nền kinh tế bởi khi đó tín dụng đã được luồn lách để đưa qua nhóm phi sản xuất vốn đang có nhu cầu cao và đang bị khống chế. Nền kinh tế sẽ phát triển khỏe mạnh nếu tín dụng phi sản xuất được khống chế và đồng thời mặt bằng lãi suất phải giảm xuống.
Nỗi lo giảm phát
Sâu chuỗi những lập luận rời rạc nêu trên cho phép tôi vẽ nhanh bức tranh kinh tế Việt nam hiện tại như sau: “Một nền kinh tế đang trải qua thời kỳ khó khăn do các chính sách thắt chặt; chỉ số giá cả CPI lên tới 20.82%; lãi suất cho vay ra nền kinh tế ở mức 20-22%; các ngân hàng không thiếu thanh khoản nhưng chưa sẵn sàng cho vay ra nền kinh tế do chi phí vốn cao trong khi các doanh nghiệp lành mạnh không thể có lãi với chi phí lãi vay quá cao; khoảng 30% doanh nghiệp đã bị phá sản; chính sách tài khóa không hẳn là thắt chặt và do vậy chính sách tiền tệ sẽ vẫn được dùng là công cụ chính để điều tiết kinh tế”.
Trong nền kinh tế này, nếu tiếp cận theo hướng khi nào lạm phát về mức mong đợi thì lúc đó mới giảm lãi suất thì có thể vòng luẩn quẩn mới lại tiếp tục bởi những chính sách giật cục sẽ mang lại những cú sốc với nền kinh tế. Phần lớn giới nghiên cứu đều đưa ra nhận định rằng chỉ số giá hàng tháng đã giảm và chỉ số giá theo năm được dự báo sẽ đạt đỉnh vào tháng 8/2011 ở mức khoảng 22%, cho thấy rằng xu thế lạm phát đang sẵn sàng để thay đổi theo hướng giảm xuống. Vấn đề mấu chốt của quan ngại lạm phát không còn nằm ở việc nó sẽ đạt mức bao nhiêu, mà là xu thế lạm phát có thay đổi hay không.
Theo đánh giá của cá nhân tôi, nếu mặt bằng lãi suất tiếp tục ở mức cao, nền kinh tế Việt nam sẽ đối diện với nguy cơ giảm phát trong thời gian tới bởi sự sụt giảm của cả cung và cầu. Số liệu của tổng cục thống kê tính đến hết tháng 6/2011 cho thấy, trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm đều trong thời gian qua, từ khoảng 25-26% cuối năm trước xuống 22-23% ở hiện tại, thì giá trị sản xuất công nhiệp đã có những sự sụt giảm mạnh trong thời gian gần đây, giảm còn 9.7% so với trung bình khoảng 14% trước đó. Điều này phù hợp với quan sát về sự khó khăn của doanh nghiệp nêu trên và có nghĩa là thời kỳ khó khăn nhất của doanh nghiệp thực sự đang bắt đầu.
Sự khó khăn của doanh nghiệp trong nước và sự giảm sút của sản xuất nội địa cũng được nhìn thấy qua việc tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn trong nửa đầu năm (5.57% so với cùng thời kỳ năm trước) và giá trị thâm hụt thương mại gia tăng (liên tiếp từ tháng 2-5, thâm hụt thương mại trên 1tỷ đô la, tháng Sáu thâm hụt nhẹ là do xuất khẩu vàng). Với những diễn biến này, chúng tôi dự báo chỉ số giá sẽ giảm mạnh trong thời gian tới, và giảm thậm chí dưới 15% vào cuối năm 2011 nếu điều kiện hiện tại tiếp diễn[v].
Đồ thị 2 – Sản xuất công nghiệp và tổng mức bán lẻ hàng hóa (lũy kế so với cùng kỳ)
Đồ thị 3 – Cán cân thương mại
Đồ thị 3 – Tăng trưởng kinh tế
Vài suy nghĩ thay kết luận
Mặc dù những suy nghĩ của tôi có thể không mang tính đại diện, nhưng nỗi lo giảm phát là có thật. Hay dùng từ ngữ nghe thực tế hơn, nguy cơ về việc đình đốn sản xuất là hiện hữu. Bài toán này chỉ có thể giải quyết được nếu mặt bằng lãi suất giảm xuống đồng thời quy định về tín dụng phi sản xuất được tuân thủ nghiêm ngặt. Xét ở khía cạnh công cụ tiền tệ, nếu đợi chỉ số giá giảm xuống để giảm mặt bằng lãi suất thì đó là công việc của thị trường. Còn nếu uốn các mức lãi suất cho vay theo hướng giảm xuống thì đó là công việc của nhà quản lý. Tôi cho rằng một khi các ngân hàng thừa thanh khoản, việc giảm lãi suất cho vay sẽ tạo ra thiệt thòi so với chi phí vốn nhưng điều này có thể còn có lợi hơn nhiều so với việc chờ cho vay lãi suất cao mà không cho vay được. Tôi nghĩ rằng việc khống chế mức trần lãi suất cho vay trong điều kiện hiện tại có thể sẽ không còn tạo ra nhiều sự phản đối như trước.


[i] Xem bài “6 tháng đầu năm, 30% doanh nghiệp đã bị phá sản”, đăng lưu tại: http://vitinfo.vn/MMuctin/Kinhte/LA90398/default.html
[ii] Xem bài “Cắt giảm đầu tư công: Nhìn hiệu quả, lo hậu quả” đăng lưu tại: http://vneconomy.vn/20110625110935254p0c9920/cat-giam-dau-tu-cong-nhin-hieu-qua-lo-hau-qua.htm
[iii] Xem bài “Nên giữ tăng trưởng tín dụng ở mức 23%” đăng lưu tại: http://vneconomy.vn/20110630084053272P0C6/nen-giu-tang-truong-tin-dung-khoang-23.htm
[iv] Xem bài “Thanh khoản ngân hàng đang dồi dào”, đăng lưu tại: http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Thanh-khoan-ngan-hang-doi-dao/48344
[v] IMF cũng đưa ra dự báo lạm phát tại Việt nam cuối năm 2011 vào khoảng 13.75%, xem lưu tại:http://stox.vn/News/imf-du-bao-lam-phat-nam-2011-cua-viet-nam-13-75.html

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

DỰ BÁO XU HƯỚNG LẠM PHÁT DƯỚI GÓC NHÌN KỸ THUẬT

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.

Nguyên nhân của lạm phát chủ yếu là do cầu kéo và do chi phí đẩy. Nhưng đối với Việt Nam thì lạm phát chủ yếu là do chi phí đẩy, tức là chi phí đầu vào hay chi phí sản xuất của các doanh nghiệp tác động tới giá thành sản phẩm nhằm bảo toàn lợi nhuận và làm cho mức giá chung của nền kinh tế tăng.

Việt Nam là một trong những nước nhập siêu cho nên giá cả hành hóa thế giới sẽ ảnh hưởng lớn đến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp. Do đó, để phản ánh xu hướng lạm phát trong thời gian tới, chúng ta cần phản ánh được xu hướng giá của hàng hóa thế giới, mà tiêu biểu ở đây tôi xin đơn cử chỉ số CRB Index - Đây là một chỉ số gồm có 22 món nguyên liệu thông dụng nhất trong kinh tế, giá trị của 22 món hàng này rất nhạy cảm với sự thay đổi của kinh tế.

Đồng thời xem xét giữa hai chỉ số CRB Index và chỉ số lạm phát (CPI) có mức độ tương quan cao khi mà tỷ giá hối đoái tại Việt Nam sẽ tiếp tục ổn định quanh mốc 20,560 VND, từ ngày 1/7 diện kết hối được mở rộng sẽ tăng nguồn cung USD trên thị trường.

Vì vậy, để đánh giá xu hướng sắp tới của chỉ số lạm phát (hay chỉ số CPI) chúng ta có thể phân tích xu hướng của chỉ số CRB Index thông qua phương pháp phân tích kỹ thuật.

Mô hình biến động giá của chỉ số CRB Index trong giai đoạn 2006 – 2008:

Mô hình này có 2 đặc điểm quan trọng:

  • Xuất hiện mẫu hình vai đầu vai ngược
  • Tạo đỉnh tại mức 261,8% của Fibonacci

Sau khi tạo đỉnh tại mức 261,8% của Fibonacci, chỉ số CRB Index xuất hiện xu hướng giảm giá sâu vào năm 2009.

Nhìn nhận mô hình biến động giá trong giai đoạn 2009 – 2011:

Với 2 đặc điểm tương tự với mô hình biến động giá của chỉ số CRB Index trong giai đoạn 2006 – 2008 cho nên nhiều nhà đầu tư lo lắng và hạn chế mua vào. Và với tín hiệu kỹ thuật như vậy khả năng lịch sử sẽ lặp lại như giai đoạn 2006 – 2008, đó là sự giảm sâu của chỉ số CRB Index. 

Vì vậy, với mức độ tương quan thuận của chỉ số CRB Index và chỉ số CPI, đồng thời là sự ổn định của tỷ giá trong thời gian tới, tôi cho rằng chỉ số CPI sẽ được bình ổn trở lại sau những tháng tăng mạnh vừa qua.

Thứ Năm, 23 tháng 6, 2011

THỜI ĐIỂM NHẠY CẢM – TĂNG HAY GIẢM

Trong giai đoạn vừa qua, chúng ta đã chứng kiến nhưng phiên dao động trong biên độ hẹp và đi ngang của VN-Index. Đồng thời, dãi Bollinger Bands co thắt mạnh cho thấy sự tích lũy mạnh của VN-Index. Chỉ báo ADX liên tục sụt giảm cho thấy sức mạnh xu hướng thị trường ngày càng yếu và không rõ ràng. Vậy câu hỏi đặt ra là khi nào thị trường sẽ thoát khỏi giai đoạn này và hình thành một xu hướng mới? Đây là câu hỏi mà hầu hết các nhà phân tích đều cố gắng đi tìm câu trả lời.

Dưới góc độ phân tích kỹ thuật với việc xem xét biến động của chart, tôi sử dụng công cụ Fibonacci Time Zones, Fibonacci Retracement và Gann Fan để xác định thời điểm thoát khỏi xu hướng sideways hiện tại của VN-Index.

  • Công cụ Fibonacci Time Zones sử dụng để tiên đoán số phiên mà đường giá có thể sẽ thay đổi.

  • Công cụ Fibonacci Retracement cho ta biết được những ngưỡng hỗ trợ và kháng cự

  • Công cụ Gann Fan cho ta những đường hỗ trợ và kháng cự của xu hướng giá.
Qua quan sát đồ thị, với việc sử dụng kết hợp 3 công cụ trên thì Fibonacci Time Zones chỉ định thời điểm thay đổi thị trường là 01/07/2011, và tại thời điểm này là ngưỡng hỗ trợ 38,2% của Fibonacci Retracement (ngưỡng hỗ trợ mạnh) và đường hỗ trợ 3x1 của Gann Fan. Với sự giao cắt ngẫu nhiên này cho ta thấy ngưỡng 420 vào ngày 01/07/2011 sẽ là thời điểm thoát giai đoạn điều chỉnh và hình thành xu hướng mới của VN-Index.

Ngoài ra, để củng cố thêm kết quả trên, chúng ta kiểm chứng bằng công cụ phân tích cơ bản. Thời điểm 01/07/2011 là thời điểm hàng loạt các báo cáo quý II của các doanh nghiệp công bố. Đồng thời, lo ngại về mốc “tín dụng phi sản xuất” 30/6 đang lớn dần, mặc dù thông tin báo chí nói rằng chỉ có khoảng gần 20% tín dụng là phi sản xuất, nhỏ hơn con số yêu cầu là 22%. Điều này có thể không tạo sốc, nhưng với một cách nhìn dài hơn cho tới cuối năm, và nhìn cách các ngân hàng đang thu nợ, thì có thể thấy rằng con đường từ nay đến cuối năm khi tỷ lệ phải giảm về 16% vẫn còn nhiều chông gai. Ngoài ra, một số chuyên gia chứng khoán nhận định, thời điểm 01/07/2011 là thời điểm khá nhạy cảm của thị trường xét trên góc độ vĩ mô.

Do đó, với những thông tin cơ bản lẫn tín hiệu kỹ thuật trên đã phản ánh phần nào động thái rõ ràng của các nhà đầu tư sẽ diễn ra vào thời điểm 01/07/2011.

Market Talk 23/11/2025 – Sau cơn mưa trời sẽ sáng

Các nội dung chính 1.      Mức tăng trưởng của TTCK VN lên mức TÍCH CỰC 2.      Tâm lý sợ hãi quá mức và nhìn lại chu kỳ 3.      Dự bá...